Thứ Tư ngày 8 tháng 5 năm 2019

 

47 MẪU CHUYỆN NGẮN

 

1.   ĐỪNG CHỌI VỚI GIÁO HỘI

 

 Bit-mắc (Bismark) từng được mệnh danh là "thủ tướng sắt !". Ông là nhà độc tài từng thao túng chính trường nước Đức cuối thế kỉ vừa rồi. Ông đã gây nhiều khó khăn cho Giáo Hội Đức và Giáo Hội đã phải đổi đường lối chuyên chính phát-xít của ông. Trong những ngày đen tối ấy, giáo dân Đức có sáng kiến in ra một bức hí họa rồi phổ biến cho treo Trong mọi gia đình. Các tiệm buôn thì dán trước cửa kính. Bức hí họa ấy trình bày một tên khổng lồ đang hì hục đến toát mồ hôi để xô một tảng đá xuống biển. Bên cạnh đó một thằng quỉ ngồi nhe răng cười và bảo tên không lồ kia : "Tao đã khó nhọc cố gằng suốt 20 thế kỉ nay mà vẫn chưa lăn nó xuống biển được, mày là ai mà cả gan làm như thế ?". Bismark biết được ý nghĩa của bức tranh châm biếm thì tức tối vô cùng, nhưng chẳng biết làm sao. Cuối cùng, cuộc đấu tranh văn hóa Kulturkacupf nhằm chống tôn giáo của ông bị thất bại và ông đã phải nhắm mắt xuôi tay nằm xuống trong cay đắng như bao nhà độc tài khác.

 

 Bạn ơi ! Đừng chọi Đá này

 Đừng xô Giáo Hội Chúa xây vững vàng

 Đời đời Đá đứng hiên ngang

 Chỉ thương xác bạn rã tan tơi bời.

 

2.  THÁNH BONAVENTURA KHIÊM NHƯỜNG

 Hồi ấy Bonaventura và Tôma còn là hai tiến sĩ tương lai của Giáo Hội. Đức Giáo Hoàng đã ủy cho hai vị sáng tác một bài thơ kính Phép Thánh Thể. Tôma được yêu cầu trình bày tác phẩm của mình trước. Đang khi ngồi nghe, người ta nhận thấy hai bàn tay của Bonaventura hoạt động một cách bí mật ...

 

 Nghe Tôma trình bày xong, Bonaventura nhanh hoạt đứng lên phát biểu :

 Bài của Tôma thật là tuyệt tác, vô song. Rồi mở bàn tay ra trình bày một mới giấy vụn. Vì Bonaventura đã xé nát bài của mình trong khi nghe bài của Tôma.

 Người đời sau rất tiếc vì đã mất đi một tác phẩm, chắc cũng rất thâm trầm và lưu loát xứng với bộ óc thông minh của Bonaventura. Nhưng bù lại, được một tấm gương khiêm hạ tuyệt vời mà mọi người cần phải bắt chước.

 Bôn-na thật quá khiêm nhường

 Dạy cho ta biết con đường phải đi

 Bạn ơi ! Đừng có khinh khi

 Những điều kẻ khác thực thi cạnh mình.

 

3. CHỖ ĐỂ CÁI CHỔI

Khi Đã Chuyện Trò Với Tôi (Chị P.Molinery) Quãng Một Giờ Về những việc đã xảy ra ở Lộ Đức, chi Bernadette hỏi tôi :

- Chị ơi ! Quét nhà xong người ta dùng chổi làm gì ?.

- Chị muốn hỏi em điều gì ?

 Em muốn hỏi xem khi đã quét nhà xong người ta đặt cái chổi ở đâu ?

 - Người ta dựng nó vào một xó thường là khuất sau cánh cửa.

 Nghe xong câu trả lời ấy, chị Bernadette hớn hở nói với tôi :

 - Thế thì tốt lắm. Em đã là cái chổi của Đức Trinh Nữ Maria. Khi Người dùng rồi, không còn cần đến em nữa, em cũng muốn nép mình ở đó mãi.

 Ôi ! Gương tự hạ tuyệt vời

 Ví thân như chổi tìm nơi nép mình !

 Xin cho con biết thật tình

 Khiêm nhường một dạ đinh ninh không rời.

 

4. MẢNH GIẤY TRONG CHIẾC HUY CHƯƠNG

 Cô Xô-phi Béc-đăng-ka (Sophie Berdanska) được một gia đình Do Thái về ở chăm sóc cho mấy đưa trẻ trong nhà. Ngay hôm đầu tiên khi biết được Xô-phi là người công giáo, ông chủ nhà đã đặt điều kiện là nàng không được "giảng đạo" cho con cái của ông. Xô-phi nhận lời. Chiều hôm ấy khi còn một mình trong phòng, nàng đã lấy một mảnh giấy nhỏ, viết một dòng chữ, gấp lại và bỏ vào trong chiếc huy chương cha nàng để lại ròi mang nó vào cổ.

 

 Dưới sự chăm sóc chỉ bảo của Xô-phi, mấy đứa con trong gia đình ông Hec-ten ngày càng trở nên nết na ngoan ngoãn. Cuộc sống đang êm đềm trôi thì bỗng một hôm tai họa dồn dập xảy đến : bé Na-em đau nặng phải đi bệnh viện. Xô-phi tình nguyện túc trực ngày đêm ở đó. Rồi thêm 2 đứa khác bị đau nặng nữa - Xô-phi đã hi sinh phục vụ dẻo dai cho đến khi cả ba khỏe lại bình thường. Nhưng rồi một hôm vì qúa lao nhọc, thức khuya dậy sớm, Xô-phi ngã bệnh nặng và từ trần.

 

 Hai năm trôi qua. Hôm nay là ngày giỗ của Xô-phi. Cả gia đình Hec-ten dậy sớm và cùng nhau đến một nhà thời công giáo dự thánh lễ.

 

 Sau khi Xô-phi mất được ít lâu, tình cờ mở chiếc huy chương nàng thường đeo ở cổ, ông Hec-ten lấy ra được một mảh giấy trên đó thấy ghi dòng chữ : "Khi người ta cấm tôi nói về đạo công giáo, tôi quyết sống đạo của tôi trước mắt họ như một chứng tích hùng hồn". Cảm phục cuộc đời của Xô-phi, cả gia đình ông Hec-ten đã xin theo đạo công giáo.

 

 Một đời sống đạo tốt lành

 Có sức thuyết phục rành rành chẳng sai

 Không cần phải giảng chi dài

 Hi sinh bác ái là bài tuyệt hay.

 

5. NỤ CƯỜI YÊN ỦI

 

 Tại vùng kia có một anh quân nhân xấu xí. Hầu như ai nhìn thấy anh cũng bĩu môi khinh dễ. Không ai muốn tiếp xúc với anh, muốn làm bạn với anh. Cả đời sống cô đơn buồn tẻ ...

 Khi anh chết, người ta thấy một di chúc trong ngăn kéo bàn giấy có nội dung như thế này : "Xin giao số tiền 1000 đô la của tôi kèm đây cho cô bé Kit-ty vì suốt cả đời tôi không nhận được một nụ cười yên ủi nào của ai, ngoại trừ nụ cười của cô bé này trong một lần tôi gặp cô đi học về. Đó là niềm vui duy nhất của đời tôi. Nó khiến tôi đủ can đảm sống trọn cuộc đời cô đơn".

 

 Cuộc đời nhiều nước mắt rơi

 Xin mau ban tặng nụ cười điểm tô

 Những lúc gặp cảnh gay go

 Nụ cười giúp đỡ bước cho bền lòng.

 

6. HÀ TIỆN

 Nat-ret-đin có một người bạn rất keo kẹt. Cả đời chẳng bao giờ anh giúp ai một xu, cứ muốn vơ vét của người ta làm giàu.

 

 Một hôm, đi dạo với bạn bè cạnh bờ sông, không may bị trượt chân rơi xuống nước. Một người bạn quỳ trên bờ, dơ cánh tay ra bảo : "Hãy đưa tay cho tôi, tôi sẽ kéo lên !". Anh chàng keo kẹt trồi lên, ngụp xuống nhưng vẫn không chịu đưa tay cho bạn mình. Một người bạn khác cũng thử gọi và làm như thế, nhưng vẫn không có hiệu quả gì.

 

 Cuối cùng Nat-ret-đin vội hô to : "Hãy cầm lấy tay tôi, tôi sẽ kéo lên !". Lập tức, anh nhà giàu keo kẹt kia nắm lấy tay Nat-ret-đin và được kéo lên bờ.

 

 Bấy giờ Nat-ret-đin nói với các bạn : "Các bạn không hiểu tâm lý của người bạn chúng ta. Khi các bạn bảo hãy đưa thì anh ta không chịu đâu, còn khi bảo hãy cầm thì anh ta chịu liền".

 

 Những người hà tiện xấu xa

 Chỉ mong vơ của người ta cho đầy

 Chẳng bao giờ chịu mở tay

 Giúp người đói khổ đổi thay cảnh nghèo.

 

7. ĐÁP LẠI TÌNH YÊU

 

 Ngày kia một người lính già khẩn khoản xin vua Xê-da đi dự phiên tòa xét xử mình. Vua hứa sẽ mượn người khác đi thay vì vua bận việc. Bấy giờ người lình già liền cởi áo ra mà nói :

 

 Thưa ngài, ngày xưa khi ngài gặp những nguy hiểm lớn lao giữa trận địa, tôi đã không mượn ai thay thế tôi bảo vệ ngài. Chính tôi đã đích thân che chở ngài khỏi mũi tên, ngọn giáo. Xin ngài đưa mắt xem đây là những vết thương tôi đã chịu vì ngài.. ."

 Nghe thế, Xê-da lấy làm hổ thẹn và quyết định đích thân tới dự phiên tòa xét xử người lính kia.

 

 Từ trên thánh giá, Chúa Giêsu cũng chỉ những vết thương Người đã chịu vì ta và nói : "Con ơi, đây là những vết thương Cha từng chịu vì con, con sẽ làm gì để đap lại tình yêu của Cha ?".

 

 Treo trên khổ giá xót xa

 Vết thương chằng chịt vì ta lỗi lầm

 Chúa đang hỏi tiếng rất thầm

 Tình yêu con trả mấy phần cho Cha ?

 

8. BỎ NGÔI BÁU VÌ YÊU

 

 Có thể nói Ê-đu-a VII (Edward VII) là ông vua duy nhất, không những trong lịch sử Anh quốc mà cả trong lịch sử thế giới cận đại, đã cam từ bỏ ngai vàng để đi theo tiếng gọi của tình yêu. Ngay từ lúc lên ngôi (21-01-1936) vua đã có ý định chia sẻ vinh quang này với người mình yêu là Oa-lit Xim-sơn (Walis Simpson) thuộc quốc tịch Mỹ. Nhưng ý định đó đã không thực hiện được vì nội các cũng như dư luận Anh hồi đó không tán thành chuyện ông phong chức hoàng hậu cho một người phụ nữ đã hai lần li hôn. Trung thành với tình yêu của mình, vua Ê-đu-a VII thoái vị ngày 10-02-1936 để rồi 6 tháng sau đó làm lễ thành hôn với Oa-lit Xim-sơn tại Pháp. Dưới tên là công tước Uyn-xơ. Ông đã sống hạnh phúc với bà cho đến khi qua đời năm 1972.

 Còn bà Oa-lit Xim-sơn từ trần năm 1986 và đã tặng cho viện Pat-tơ (Pasteur) Pháp tất cả nữ trang của bà gồm 200 chiếc vòng, nhẫn, xuyến ... trị giá hơn 50 triệu phơ-răng.

 Vì yêu chẳng tiếc chức quyền

 Ngôi vua cũng bỏ, bạc tiền coi khinh

 Miễn sao cho được chung tình

 Cùng người yêu dấu của mình mới thôi.

 

9. HỔ, KHỈ VÀ KIẾN

 

Một hôm, hổ vồ chết hai con trâu và xé tan xác một con lạc đà. Nghĩ mình rất dũng cảm, hổ leo lên một tảng đá, nằm xoài ra và lớn tiếng khoe khoang :

 - Không có con vật nào đọ sức với ta được. Ngay đến voi gặp ta cũng phải cụp đuôi chạy mất. Trời sinh ta ra như vậy, ta chẳng cầu cạnh, nhờ vả ai !

 Bỗng nhiên một phiến đá nhọn rơi từ đỉnh núi xuống và vào lưng hổ làm nó bị thương. Sau đó hổ chỗi dậy đi ra hồ uống nước, rồi nằm trên bờ ngủ thiếp đi. Cạnh đó có một tổ kiến lửa. Kiến bò ra, leo lên lưng, chui vào vết thương của hổ và ra sức đốt. Đau quá, hổ chồm dậy, lồng lên và gầm thét chuyển cả núi đồi. Một chú khỉ ngồi trên cành cây gần đó thấy hổ quay cuồng thì phì cười và nói :

 - Ê, anh dũng sĩ kia ! Vừa rồi anh khoe khoang là không có con vật nào có thế đọ được sức mạnh của anh, cớ sao bây giờ anh lại hoảng hốt giẫy lên như thế ? Anh thật tồi quá !

 Nghe nói thế, hổ lấy làm xấu hổ nhưng vẫn năn nỉ :

 - Tôi lạy anh, xin anh làm phúc phủi kiến ra khỏi vết thương hộ tôi, ơn này suốt đời tôi không dám quên.

 Hỗ khoe sức mạnh như trời

 Không ngờ bị kiến cắn xoi thịt mình

 Cuồng điên nổi trận lôi đình

 Để cho chú khỉ coi khinh nhạo cười.

 

10. BA CON BÚP BÊ VÀNG

 Một ông vua muốn thử trí thông minh của vị tể tướng ở nước chư hầu mình, bèn gửi tặng 3 con búp bê bằng vàng. Những con búp bê này hoàn toàn giống nhau về hình dáng, kích thước và trọng lượng. Nhưng vua bảo là giá của chúng khác nhau : một con rẻ, một con đắt hơn, và một con rất đắt. Và vua yêu cầu trả lời lí do tại sao lại như thế.

 Khi nhận được tặng phẩm, tể tướng cho mời tất cả các quan trong triều lại để lí luận cho biết tại sao lại có 3 giá khác nhau như vậy, nhưng không ai có thể trả lời.

 Lúc ấy có một thanh niên nghèo đang bị giam vì phạm tột tội nhẹ. Nghe tin, anh ta nhờ trình lên tể tướng rằng nếu được nhìn tận mắt những con búp bê ấy, nhất định anh sẽ đoán ra sự khác nhau của chúng. Tể tướng ra lệnh dẫn anh ta vào cung điện và đặt 3 con búp bê trước mặt. Nhận thấy ở tai mỗi con búp bê đều có một lỗ nhỏ, anh liền lấy một gọng rơm đút vào. Đút vào con thứ nhất thì thấy gọng rơm thò ra đàng mồm. Đút vào con thứ hai thì thấy gọng rơm lòi ra tai bên kia. Đút gọng rơm vào con thứ ba thì thấy gọng rơm xuyên sâu xuống bụng và nằm yên đó. Bấy giờ anh thanh niên mới nói :

 - Thưa tể tướng, con thứ nhất giống như người bộp chộp, vừa mới nghe đã vội nói cho người khác. Loại người này thấp giá vì không đáng tin cậy. Con thứ hai giống như người vô tâm, nghe tai này ra tai kia. Loại này, cũng không đáng giá bao nhiêu. Còn con thứ ba giống như người nghe gì thì để vào bụng mà suy. Loại này rất tốt vì thế rất cao giá. Tể tướng thấy nói có lí thì rất mừng. Ông khen ngợi, xá tội và trọng thưởng cho anh.

 Những người bộp chộp vô tâm

 Là người thấp giá, nhân dân coi thường.

 Người khôn suy nghĩ trăm đường

 Nghe rồi để bụng như rương khóa rồi.

 

11. GIẢ NHÂN GIẢ NGHĨA

 Một người đàn bà đứng trên thành cầu sắp nhảy xuống sông tự tử. Khách qua đường thấy một người đàn ông đang ra sức khuyên can và giữ người đàn bà lại không cho nhảy xuống nước.

 Sau một cuộc giằng co dữ dội, người đàn bà đã tỉnh trí và chịu ngồi xuống. Khách qua đường ngưỡng mộ hành động anh hùng của người đàn ông ấy. Nhưng đáng buồn thay vì một việc bất ngờ xảy ra : chính vị ân nhân này giật phắt lấy cái xắc tay của người đàn bà rồi chạy vào trong một ngõ hẻm trước sự bỡ ngỡ của một số người đang nhìn, kẻ cả người đàn bà vừa tỉnh ngộ. Không ai có thể kịp phản ứng gì cả. Một điều không ai ngờ : một người đã cố gắng hết sức mình để ngăn không cho người dàn bà kia tự tử lại trở thành kẻ cướp giật cái xắc tay của bà ta.

 Ở đời lắm kẻ giả nhân

 Lắm người giả nghĩa manh tâm đánh lừa

 Lòn tham không mấy cho vừa

 Làm điều phi pháp không chừa một ai.

 

12. NÓNG VỘI.

 Một hôm, Nga Hoàng cùng đoàn tùng đi săn gần trưa vua cảm thấy mệt và khát nước. Vua leo lên lưng con ngựa yêu quí và lén đi tìm nước một mình. Vua men theo bìa rừng và tìm được một dòng nước róc rách chảy ra từ một phiến đá lớn. Vua lấy bầu da hứng nước rồi leo lên lưng ngựa đẻ thưởng thức ngụm nước mát trong. Thế nhưng cứ mỗi lần vua đưa bầu da lên miệng là con ngựa lại nhảy hất lên làm cho nước văng ra ngoài. Vua lại phải xuóng ngựa để hứng cho đầy bầu da, nhưng rồi cũng thế, hễ vua đưa bâu da lên miệng thì con ngựa lại vùng lên và nước trong bầu lại chảy ra hết. Đến lần thứ ba, con ngựa vùng vằng dữ dội hơn, khiến cho vua không thể nào uống được. Tức quá, không chịu nổi, vua tuốt gươm đâm mạnh vào cổ con ngựa và nó ngã lăn ra trên vũng máu. Lúc ấy vua lấy bầu nước đưa lên miệng. Nhưng khi chưa kịp uống thì đã thấy lớp người tùy tùng của mình đi tới. Họ van :

 - Xin bệ hạ đừng uống nước ấy vì đó chính là dòng nước độc !

 Lúc bấy giờ vua mới rõ những cử chỉ của con ngựa yêu quí. Thì ra, con vật đã cứu mạng vua mà vua không biết. Vua ứa nước mắt nhìn con vật nằm bất động trong vũng máu và thốt lên : "Ta đã phạm lỗi lầm vì sự nóng nảy vội vàng của Ta".

 Những lần nóng vội thường sai

 Làm rồi, hối hận, không ai khen gì

 Tập tành cho biết nghĩ suy

 Hết sức chín chắn trước khi thi hành.

 

13. LÒNG TRUNG THÀNH

 Bác sĩ Him-đô-da-đu-rô I-bê-nô, người Nhật có một con chó tên là Ha-rây-cô rất trung thành. Hằng ngày, buổi sáng, bác sĩ ra ga đi tàu đến nơi làm việc, chiều trở về. Sáng nào, con chó cũng tiễn chủ ra ga, chiều lại tới ga đón chủ về.

 Rồi một hôm, bác sĩ đột ngột qua đời mà con cho không hay biết. Trong khoảng thời gian suốt 11 năm sau đó, chiều nào nó cũng ra ga đón, mong chủ trở về.

 Đến một ngày nọ, nó già đi rồi chết. Ai cũng thương tiếc con chó đầy tình nghĩa ấy. Trong đoàn đưa xác nó tới huyệt, 16 vị hòa thượng và hàng ngàn người dân.

 Người ta đã dựng một tượng đồng ở trước nhà ga để tưởng nhớ con chó trung tín đã 11 năm chờ đón chủ về.

 Noi gương con vật thấp hèn

 Có lòng thương mến vững bền hơn ta

 Bao năm liên tục ra ga

 Trung thành đón chủ về nhà nghỉ ngơi.

 

14. VĨNH CỬU

 Kể từ khi quả bom nguyên tử rơi xuống Nagasaki vào tháng 8 năm 1945, bác sĩ Paul Nagai, người Nhật được thế giới ca tụng là một mẫu gương hi sinh tận tụy. Ông đã giải thích niềm tin của mình vào vĩnh cửu như sau :

 Khi tôi vừa học hết năm thứ hai của Đại Học Y Khoa, thì mẹ tôi ngã bệnh nặng. Tôi hối hả chạy đến bên giường mẹ. Đôi mắt mẹ trừng trừng nhìn tôi. Cái nhìn cuối cùng của con người đã sinh ra, đã dạy dỗ, đã thương tôi đến cùng, cái nhìn ấy nói với tôi rõ ràng rằng dầu sau khi người khuất bóng, người vẫn ở bên tôi. Dù tôi là người không bao giờ tin có linh hồn, nhưng khi nhìn vào đôi mắt mẹ, tôi cảm thấy linh hồn mẹ có đó. Dù lìa khỏi xác, linh hồn ấy vẫn còn mãi mãi".

 Bác sĩ Nagai nói tiếp :

 "Và con người tôi đã đổi hẳn. Dù làm hết sức tôi vẫn không thể tin được rằng mẹ tôi chết là hoàn toàn bị tiêu diệt. Đây là lần đầu tiên con mắt tôi mở ra để nhìn thấy thế giới siêu nhiên, vĩnh cửu muôn đời".

 Trong đôi mắt mẹ sáng ngời

 Hồn tôi nhìn thấy bầu trời siêu nhiên

 Tình thương của mẹ vô biên

 Ấp yêu tôi mãi, không quên bao giờ.

 

15. CÁI LƯỠI CỦA THÁN ANTÔN

 Thánh Antôn Pađôva là một vị thánh rất trổi về lòng nhiệt thành rao giảng Phúc Âm cho nhân dân. Ngài vừa biết làm cho tầng lớp trí thức ca ngợi sự cao siêu của tư tưởng Ngài, đồng thời cũng biết làm cho tầng lớp ít văn hóa biểu được những lời Ngài nói. Ngài rao giảng khắp các thành phố, làng mạc và lời giảng thuyết của Ngài thu được kết quả đồi dào. Sau khi Ngài từ trần, Chúa đã không để cho cái lưỡi của Ngài bị hoại nát để làm chứng cho cái kết quả vô cùng lớn lao của những bài Ngài giảng thuyết. Khi bốc mộ Ngài, người ta thấy cái lưỡi đỏ hồng hào còn thịt thì đã tiêu hủy hết sạch. Thánh Bonaventura hiện diện lúc bốc mộ đã dùng tay cầm chiếc lưỡi đó hôn kính và nói : "Ôi cái lưỡi đầy hồng phúc, cái lưỡi không ngừng ca tụng Chúa và làm cho vô số linh hồn ca tụng Người. Cái lưỡi bây giờ thật là quí giá trước mặt Đấng đã dựng nên nó để dùng vào một số việc cao siêu và kì diệu !".

 Chúa cho lưỡi thán An-tông

 Dù sau khi chết vẫn hồng hào tươi

 Thịt tan nát hết cả rồi

 Còn ba tấc lưỡi muôn đời không hoai.

 

16. MỀM DẺO

 Thường Tung là bậc thầy của Lão Tử. Thường Tung ốm. Lão Tử đến thăm và hỏi :

 - Xem ra tiên sinh mệt nặng, dám hỏi tiên sinh còn điều gì đáng chỉ giáo cho đệ tử nữa không ?

 Thường Tung liền há miệng cho Lão Tử xem và hỏi :

 - Lưỡi ta có còn không ?

 Lão Tử thưa : "Còn !"

 Thường Tung lại há miệng cho Lão Tử xem lần nữa và hỏi :

 - Răng ta còn không ?

 Lão Tử thưa : "Rụng hết rồi !"

 Thường Tung hỏi :

 - Thế ngươi có hiểu lí do vì sao không ?

 Lão Tử đáp : "Lưỡi còn, chắc là tại lưỡi mềm, răng rụng hết chắc bởi vì răng cứng".

 Thường Tung nói : "Phải đó, việc đời đại để đều như thế cả. Ta chỉ cần nói với các đệ tử chừng ấy thôi".

 Ở đời, muốn thành công, muốn thu được kết quả tốt trong việc giao tế với nhau, chúng ta cần có tình mềm dẻo, nhẹ nhàng, hiền dịu. Phải triệt để tránh tính căng thẳng, cứng cỏi, nóng nảy, hay sinh sự, đả kích.

 Lưỡi mềm răng cứng khác nhau

 Tuổi già răng rụng, lưỡi đâu can gì

 Ở đời cứng cỏi nhiều khi

 Phải ta gãy hết, mềm thì bền lâu.

 

17. SỨC MẠNH CỦA DỊU DÀNG

 Một hôm, gió và mặt trời khoe nhau về sức mạnh. Hai bên đều tự phụ mạnh hơn nhau, không bên ào chịu thua bên nào. Lúc đó, trên một con đường thênh thang, có một lão ăn mày đang bước đi. Gió và mặt trời liền thách nhau xem ai có thể đủ sức mạnh để làm tung chiếc áo ra khỏi thân thể lão ăn mày. Mặt trời lặng lẽ núp sau tầng mây để cho anh gió thử sức trước. Gió liền thổi thật mạnh để hòng tung chiếc áo của lão ăn mày ra. Nhưng càng ra sức thổi mạnh, lão ăn mày càng cố giữ chiếc áo lại. Thổi mãi, thổi mãi, gió mệt mà người ăn mày vẫn cứ túm chặt chiếc áo. Gió đành chịu. Lúc đó mặt trời tươi cười ló ra khỏi đám mây, bắt đầu chiếu những tia nắng nồng xuống đường lão ăn mày cảm thấy quá nóng nực và mồ hôi ướt đẫm, lền vội vàng cởi tung áo ra.

 Mặt trời được cuộc, bảo gió : "Đấy, anh xem, tươi cười và dịu dàng bao giờ cũng hơn là hung hăng và tàn bạo".

 Gió hung hăng thổi từng cơn

 Cũng không có thể mạnh hơn mặt trời

 Tươi cười nho nhỏ chiếu soi

 Lột tung được áo của người ăn xin.

 

18. NỒI CƠM NHAN HỒI

 

 Khổng Tử dẫn học trò sang tham quan nước Tề. Lúc đó nước Tề đói khổ vì chiến tranh, cơm gạo rất khan hiến. Khổng Tử liền phân công cho Tử Lộ dẫn các môn sinh vào rừng kiếm rau, còn Nhan hồi thì được giao cho việc thổi cơm. Riêng Khổng Tử nằm đọc sách ở nhà trên đối diện với nhà bếp, cách một cái sân nhỏ. Đang nằm đọc sách, bỗng nghe tiếng động từ nhà bếp vang lên, Khổng Tử đưa mắt nhìn xuống thì thấy Nhan Hồi đang từ từ mở vung ra lấy đũa xới cơm cho vào tay nắm lại từng nắm nhỏ rồi nhẹ nhàng đưa lên miệng. Khổng Tử liền ngửa mặt lên trời mà than : - Chao ôi ! Học trò nhất của Khổng Tử mà lại ăn vụng, đốn mạt như thế này ư ? Sau đó, Tử Lộ và các môn sinh mang rau về. Nhan Hồi luộc rau. Khi đã dọn xong đâu vào đó rồi, các môn sinh đều chấp tay mời Khổng Tử dậy xơi cơm. Khổng Tử nói : "Hôm nay dùng bữa cơm đầu tiên trên đất Tề, thầy chạnh lòng nhớ đến quê hương nữ Lỗ, nhớ đến cha mẹ thầy, cho nên thầy muốn xới một bát cơm để cúng các ngài, các con nghĩ có nên chăng ?". Trừ Nhan Hồi, đứng im, còn các môn sinh khác đều thưa : "Dạ, thưa thầy, nên ạ !". Khổng Tử lại hỏi : "Nhưng không biết nồi cơm này có sạch không ?". - Nhan Hồi thưa : "Dạ thưa thầy, nồi cơm không được sạch. Vì khi cơm sắp chín, con mở vung ra để xem thử thì chẳng may một cơn gió mạnh thổi vào làm bụi trên bếp rơi xuống bẩn cả nồi cơm. Sau đó, con xới lớp cơm bẩn ấy ra và hi sinh ăn trước để lốm cơm sạch lại cho thầy và anh em dùng. Như vậy là con đã ăn cơm bồ hóng rồi, nay chỉ ăn phần rau nữa mà thôi theo ý con, nồi cơm mình đã ăn trước rồi thì này không nên cúng nữa !".

 Nghe Nhan Hồi nói xong, Khổng Tử ngửa mặt lên trời mà than : "Chao ôi ! Trên đời này có những việc mắt mình đã xem thấy rành rành mà vẫn không hiểu đúng sự thật. Xuýt nữa Khổng Tử đã trở thành một kẻ hồ đồ !".

 Ở đời nhiều việc rành rành

 Mà mình không rõ dữ lành ra sao 

 Phải lo suy kĩ, nghĩ cao

 Kẻo không lại phải rơi vào điều sai.

 

 

19. MÃNH LỰC ĐỒNG TIỀN

Trương Diên Thưởng là một vị quan đời Đường nổi tiếng thanh liêm. Một hôm, đang hỏi cung một phạm nhân thì gia nhân của người này có đưa vào dâng một cái thiếp có ghi 5 vạn quan tiền. Trương gạt đi và tiếp tục hỏi cung. Sau đó, gia nhân người ấy lại đưa vào dâng một thiếp khác có ghi 8 vạn quan. Trương cũng gạt đi và cứ tiếp tục hỏi cung phạm nhân. Lần thứ ba, một chiếc thiếp khác được đưa vào dâng trên đó có ghi số tiền là 10 vạn quan. Bấy giờ Trương liền thôi chất cung và cho vụ án chìm xuống trong quên lãng.

 Một người bạn của Trương biết chuyện liền trách ông đã ăn hối lộ làm mất thanh danh và để lại điều thất đức cho con cháu về sau. Trương trả lời :

 - Tiền chí thập vạn, khả dĩ thông thần, nghĩa là khi tiền đã đến mức 10 vạn thì thần cũng phải xiêu xuống huống nữa là người.

 Trong bài thờ "Vịnh tiền" của Nguyễn Công Trứ có hai câu đáng nhớ :

 "Tiếng xỏng xảnh vang trong trời đất

 Thần cũng thông huống nữa là ai !".

 

20. PHO TƯỢNG ĐÁ

 

 Ngày xưa có 7 vị ẩn tu đến chung sống với nhau trong một ngôi đền bỏ hoang của người Ai-cập. Phía trước ngôi đề có một pho tượng đá còn sót lại sau khi bị cướp phá. Vị cao niên nhất trong 7 tu sĩ ấy tên là Đu-bô. Sáng nào Đu-bô cũng ra đứng trước pho tượng và nhặt một hòn đá ném vào đó. Chiều đến, ông lại ra đứng trước pho tượng và lớn tiếng xin lỗi vì hành động bất kính của ông. Một ngày kia, không còn làm chủ được tính tò mò, một người anh em trong cộng đoàn đã hỏi lí do của hành động khó hiểu ấy. Vị bề trên đã trả lời bằng cách hỏi lại người đó như sau :

 - Khi tôi ném đá vào pho tượng, nó có lung lay không ?

 - Thưa không, nó bất động.

 - Chiều tối khi tôi đến xin lỗi, pho tượng có để lộ xúc động nào không ?

 - Thưa không, nó im lìm.

 Bấy giờ vị bề trên mới giải thích :

 Nếu tất cả chúng ta muốn sống đoàn kết, yêu thương nhau thì hãy sống như pho tượng này. Đừng giận dữ khi có ai xúc phạm đến mình. Cũng đừng hãnh diện khi có ai đến xin lỗi mình.

 Muốn luôn đoàn kết thương nhau

 Phải vui chấp nhận những cầu mất lòng

 Giữ hồn bền vững sắt đồng

 Dù ai tôn kính cũng không kiêu kỳ.

 

21. NỖI LO CỦA NHÀ VUA

 Vua Denys có một cận thần là Damoclés. Vị quan này nghĩ rằng vua là người sướng nhất đời. Ngày kia, Denys quyết làm cho ông tỉnh ngộ. Vua ban cho quan này những huy hiệu của hoàng gia và một đoàn tùy tùng đông đảo sau đó lại mời quan vào trong cung điện nhà vua. Vua sai dọn tiệc thịnh soạn để tiếp quan. Cao trên bàn tiệc, vua đã truyền treo sẵn một thanh gươm mũi nhọn sáng loáng chỉ ngay xuống chỗ quan ngồi. Thanh gươm được treo bằng một sợi chỉ mảnh. Lúc đầu Damoclès không biết chuyện này nên ngồi ăn uống bình tĩnh thỏa thích như ngồi trong một động tiên. Bất chợt ông nhìn lên trần thấy thanh gươm với mũi nhọn hoắt lơ lững ngay trên đầu mình, ông liền mất hứng thú và cảm thấy ăn uống không ngon lành gì nữa. Từ đó, ông không còn muốn nếm hạnh phúc của vua nữa.

 Lòng quan nơm nớp lo âu

 Sợ gươm đứt xuống trên đầu mạng toi

 Làm dân khỏe bụng suốt đời

 Làm vua sớm tối bời bời ruột gan.

 

22. BÀI TRỪ CHIM SẺ

 Fréderie, vua nước Đức cho mình là bậc thượng trí, vô địch hoàn cầu về môn kinh tế học. Ông tính mỗi năm chim sẻ ăn hao mất 2 triệu thúng thóc. Thếlà ông phát động một chiến dịch bài trừ chim sẻ trong toàn quốc. Thương hại cho lũ chim bé bỏng. Chẳng bao lâu, không còn sót lại một mống nào trên đất nước của Fréderie nữa. Vụ chiêm năm ấy người ta chẩn đoán là đầy hứa hẹn. Ngờ đâu, khi ngày mùa sắp đến, những đoàn sâu bọ mũ xanh mũ đỏ đủ loại với những đoàn cào cào châu chấu rùng rùng xuất hiện, không binh pháp nào, không quỉ thần nào dẹp nổi.

 Fréderie ngồi trong cung điện nhìn ra thấy mùa màng bị phá hoại mà ngao ngán.

 Bấy giờ đất thấp trời cao

 Ăn làm sao nói làm sao bây giờ (Kiều).

 

23. MÓN QUÀ GIẢN DỊ

 Người ta thuật lại có một phụ nữ rất giàu bị ốm nặng và sắp chết. Trong chúc thư của bà thấy ghi rõ tên tất cả than nhân sẽ được hưởng gia tài bà để lại. Còn tên của cô giúp việc từng ở trung thành phục vụ bà lâu năm thì không thấy đâu cả. Vật duy nhất bà để lại cho cô là một cây thánh giá lớn bằng thạch cao và thường được treo ở bức tường phía đầu giường bà. Cô gái đưa tay nhận vật di tặng mà lòng buồn phiền khôn tả. Cô thở dài và thầm oán trách : bấy lâu tôi tận tâm phục vụ bà khuya sớm có phải chỉ để được hưởng chừng này ư ? rồi cô trở về phòng mình. Vì quá bực tức, cô đã quăng mạnh thánh giá xuống nền nhà. Nhưng lạ thay ! Khi lớp vỏ thạch cao vỡ nát, cô liền thấy hàng chục viên ngọc kim cương lấp lánh lăn ra. Bấy giờ cô mới hiểu được lòng tốt của bà chủ đối với mình. Nhiều khi Chúa cũng tặng ta những báu vật được dấy kính trong những khổ giá của cuộc đời mà chỉ với đôi mắt siêu nhiên, chúng ta mới nhận ra được. Những nỗi đau khổ đó có sức tinh luyện chúng ta, làm cho đời chúng ta nên đẹp đẽ và hạnh phúc hơn. Thật đúng như lời nhà thơ Baudelaire đã viết chí lý trong bài "Bénédiction".

 Chúa ban, con đội ơn người

 Thuốc thiêng đau khổ chữa đời nhớp nhơ.

 

24. CON NGỰA CỦA THÁNH BÊNAĐÔ

 Ngày kia, đi đường với một nông dân, thán Bênađô muốn lợi dụng cơ hội đó để khuyên ông ta một điều tốt lành. Để bài dạy được hữu hiệu, ngài dẫn chính bản thân ngai ra làm ví dụ, khi ngài tự than rằng mình không có thể cầu nguyện lâu mà không bị chia trí.

 Người nông dân ngạc nhiên nói : cha mà cũng bị chia trí ư ? Con thì không bao giờ.

 Thánh nhân thấy người bạn đương của mình không ý thức được tâm tư của ông ta. Để giúp ông hiểu rõ thực trạng của tâm hồn mình, thánh nhân nói :

 - Ông không bao giờ chia trí trong khi cầu nguyện sao ? Nếu ông đọc một Kinh Lạy Cha mà không chia trí thì tôi sẽ biếu ông con ngựa của tôi đây.

 Khoái chí trước lời thách thức, người nông dân vội vã đọc Kinh Lạy Cha. Nhưng chưa đọc xong nửa kinh thì ông ta đã ngưng lại hỏi :

 - Cha có cho con luôn cả yên ngựa không ?

 Thánh Bênađô cười trả lời : "Thế là ông chẳng được cái gì cả !".

 Lúc ta cầu nguyện Chúa Trời

 Dễ dàng chia trí như người mộng mơ

 Hãy xin Thần Khí giúp cho

 Tập trung tư tưởng trong giờ đọc kinh.

 

25. NGÔI SAO GẦN NHẤT

 Trái đất mà chúng ta cứ trú là một thành viên bình thường của thái dương hệ. Mặt trời chính là một ngôi sao bình thường trong hệ ngân hà. Trong hệ ngân hà ước có khoảng 10 vạn triệu ngôi sao, trong đó một ngôi sao cách thái dương hệ của chúng ta gần nhất gọi là "sao láng giềng". Nó nằm ở chòm Bán Nhân Mã, cự li cách mặt trời 4.22 năm ánh sáng. Năm ánh sáng là đơn vị trong thiên văn để biểu thị cự li, cỉ lộ trình của ánh sáng đi trong một năm, ước khoảng 9.460.500 triệu km. Như vậy, năm ánh sáng tương đương với 39.923.300 triệu km. Tính đến nay, phi thuyền trong vũ trụ mà con người phóng ra bay nhânh nhất phải kể là phi thuyền mang nhãn hiệu "nhà du hành". Tốc độc của nó mỗi giờ bay được 52.000 km. Nếu chúng ta muốn ngồi phi thuyền "nhà du hành' bay tới sao láng giềng, một lần cả đi lẫn về phải dùng tới 17 vạn năm. Với cuộc sống tạm thời ngắn ngủi của chúng ta, trước mắt, chúng ta không thể thực hiện được nguyện vọng này.

 Chúa làm vũ trụ bao la

 Ngôi sao chòm xóm cũng xa tít mù

 Phi thuyền dầu có bay vù

 Cũng mất mười bảy vạn thu đi về.

 

26. SỬA VĂN

Vua Tự Đức vốn sính thơ, cólàm đôi câu đối trơ ở điện Cần Chánh. Nghĩa của nó là :

Con nói được nghiệp cha

Tôi cần đến ơn vua.

Một hôm, Cao Bá Quát vào điện Cần Chánh bắt gặp câu đối trên, nảya ý tinh nghịch, liền lấy bút ghi ngay vào bên cạnh câu đối những chữ này : Hay chưa ! Hay chưa ! Cha con, vua tôi đảo lộn. Khi việc đó đến tai Tự Đức, vua giận lắm, cho đòi Cao Bá Quát đến hỏi tội. Ông thản nhiên đáp lại :

 - Tâu bệ hạ, thần thường nghe nói đạo vua tôi phải ở trên đạo cha con. Từ ngàn xưa bao giờ vua cũng phải đặt trước , toi phải đặt sau, và cha trước, con sau. Đức Khổng Tử cũgn đã nói : Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử là ý như thế. Nay bệ hạ lại đặt đạo cha con trên đạo vua tôi, đặt con trước cha, đặt tôi trước vua, chẳng phải là làm đảo lộn cả rồi sao ?

 Tự Đức nghe nói có lý bèn bao rông thử chữa lại. Cao Bá Quát bình tĩnh chữa lại là :

 Ơn vua, tôi phải báo

 Nghiệp cha, con phải theo.

 

Tự Đức và các quan đều phục cách chữa của ông vừa nhan, vừa sắc sảo chặt chẽ.

 Có trời rồi mới có ta

 Có cha trước đã, ắt là con sau

 Có người cai quản làm đầu

 Có trên có dưới phải đâu lộn nhào.

 

27. THẦY LANG BIẾT DỞ

 Một người đau bụng dữ dội. Người nhà vội chạy đến thầy lang. Thầy lang dở sách ra đọc, thấy hàng chữ cuối trang có ghi "Phúc thống phục nhân sâm" (đau bụng uống nhân sâm), liền cắt cho một liều nhân sâm. Uống xong, người bệnh chết ngay. Người nhà đâm đơn kiện. Quang cho đòi thầy lang đến. Thầy lang giở sách vở cho quan xem hàng chữ cuối cùng. Đọc xong, quan giở trang sau liền thấy có tiếp hai chữ "tắc tử" (=thì chêt). Nguyên cả câu trong sách ấy thế này :

 "Phúc thống phục nhân sâm tắc tử" (đau bụng uống nhân sâm thì chết). Thầy lang đọc chưa hết câu, do đó biết mà biét dở nên mang vạ vào thân.

 Biết gì hãy biết đến nơi

 Đừng làm hay biết dở toi mạng người

 Làm trò cho thế gian cười

 Lại mang lấy vạ suốt đời khổ thân.

 

28.. VIẾT VẮN, NÓI GỌN

 Vôn-te (1694-1779) và nhà thơ A.Pirông (1689-1773) có lần hẹn viết cho nhau những bức thư ngắn nhất bằng bất cứ thứ tiếng nào mà cả hai người đều hiểu. Một hôm, Vôn-te về quê, ông viết thư cho bạn bằng La-văn : "Ego rus" (tôi về quê). A.Pirông cũng trả lời bằng La-văn : "I" (anh đi đi).

 Một lần khác, Vôn-te gửi một truyện ngắn cho một tờ báo. Đợi mãi không thấy đăng, Vôn-te gửi cho chủ bút một bức thư, trong đó vỏn vẹn chỉ có một dấu " ?". Nhận được thư, chủ bút liền trả lời bằng một dấu chấm than "!".

 Nghệ sĩ Italia,ông Larôxơ, đã đề nghị Quốc Hội nước mình nên áp dụng tập quán của người dân da đỏ ở Brasil. Theo tập quán này, người đứng đầu bộ lạc có quyền buộc những người thích nói dài phaỉ đứng một chân khi phát biểu ý kiến trong các buổi họp chung.

 Người thông viết văn đơn sơ

 Còn như người dốt lại ưa cho dài

 Nói dai nghe lắm nhàm tai

 Nhiều khi nói dại ra ngoài trọng tâm.

 

29. MỘT TRẬN ĐỘNG ĐẤT

 Cách đây không lâu, thành phố Cartago ở Costa Rica đã bị phá hủy hoàn toàn bởi một trận động đất khủng khiếp. Vào dịp này xảy ra một biến cố đáng chú ý đã được báo "America" của các cha Dòng Tên ở New York thuật lại như sau :

 Don Ezechiel Gutierrez, cựu chủ tịch của đất nước này ở trong nhà và đang lần hạt với gia đình khi những chấn động đầu tiên bắt đầu. Lúc đó, một vài người trong nhà muốn chạy trốn. Nhưng nhà chính trị này yêu cầu họ ở lại cho tới khi lần hạt xong. Người ta đang vâng lwòi ông và ngạc nhiên biết bao, khi các người trong nhà ra ngoài đường, thấnh thành phố chỉ còn là đống gạch vụn. Không một căn nhà nào còn nguyên vẹn. Duy chỉ có căn nhà của Don Ezechiel Gutierrez là không một vết nứt.

 Rõ ràng, Đức Trinh Nữ Maria đã gìn giữ căn nhà ấy cách đặc biệt.

 Chăm lo lần hạt nguyện cầu

 Nhớ xin Đức Mẹ ghé đầu đoái thương

 Cứu ta thoát mọi tai ương

 Mọi điều nguy hiểm trên đường trần gian.

 

30. NÚI LỬA VÉSUVE

 Năm 1906, ngọn núi lửa Vésuve hoạt động dữ dội. Từ miệng núi trào ra những dòng nham thạch lớn. Những dòng đất đá nóng bỏng này chảy tràn xuống các sườn núi, hướng về một làng nhỏ bé tên là Torre Annunsiata. Chúng đã chảy đến căn nhà đầu tiên và cả làng hầu như chắc chắn bị chôn vùi. Toàn dâng làng sợ hãi run rẫy, đang khi cha xứ vội vàng cầm một pho tượng Đức Trinh Nữ đặt xuống đất và cầu xin lớn tiếng " Lạy Đức Trinh Nữ Maria, xin Mẹ hãy tự cứu và cứu cả chúng con ! Nếu Mẹ làm cho dòng nham thạch này chảy đi hướng khác thì tất cả sẽ tốt đẹp. Nếu không thì pho tượng Mẹ cũng sẽ bị cháy với cả làng xóm của chúng con".

 Kì diệu thay ! Sau lời nguyện ấy, dòng nham thạch nóng lỏng ngừng lại nơi chân pho tượng Mẹ, rồi chảy vòng quanh khu vực có dân cư và đổ ra biển.

 Những dòng nham thạc cuộn sôi

 Bôngc nhiên đổi hướng su lời nguyện xin

 Nhờ ơn Đưc sMẹ thương tình

 Xóm làng được hưỏng anh bình sướng vui.

 

 

31. HÒN SỎI NHIỆM MẦU

 Xưa có một cô vợ không chịu nhường nhịn chồng trong bất cứ chuyện gì. Bị chồng hành hạ quá đáng, cô ta chạy vào rừng cầu cứu với một vị ẩn sĩ. Vị ẩn sĩ đưa cho cô một hòn sỏi và dặn khi nào chồng bắt đầu chửi mắng thì hãy đạt hòn sỏi vào dưới lưỡi, nhất định chồng sẽ dịu tính đi.

 Từ đó, mỗi lần chồng nổi cơn tam bành mắng mỏ. Cô vợ bèn lấy hòn sỏi đặt ngay dưới lưỡi và không nói lại một lời nào.

 Nhiều lần như vậy, hễ chồng nổi giạn thì cô im lặng. Và chồng không dám đánh vợ nữa.

 Cô vợ vui sướng chạy vào rừng khoe với vị ẩn sĩ : "Nhà con bây giò tốt tính rồi. Anh ấy không bao giờ đánh đập chửi mắng con nữa. Con xin trả lại hòn sỏi cho ngài".

 Vị ẩn sĩ nói : "Hòn sỏi nguyên nó không có phù phép. Nhưng nó giúp cô biết nhịn khi chồng nổi nóng".

 Chồng giận thì vợ làm lành

 Miệng cười hớn hở rằng anh giận gì.

 Chồng giận thì vợ bớt lời

 Cơm sôi bớt lửa, một đời không khô.

 

 

32. CHUYÊN ĐỌC KINH "Từ Vực Sâu"

 Giáo sư Parrini là một người có nhiều tài năng, từ lâu đã là hội viên Tam Điểm. Ông còn viết báo tuyên bố rằng mình sẽ không tiếp linh mục trong trường hợp mình ngã bệnh. Và trong chúc thư, ông viết là mình chỉ muốn được chôn cất theo nghi thức phần đời.

 Thé nhưng, trong một trận đấu kiếm tay đôi, Parrini đã bị nhiều vết thương. Khi thấy được tình trạng nguy ngập do các vết thương gây nên, ông liền cho người mời cha xứ. Trước mặt các nhân chứng, mà cha xứ đòi phải có, ông tuyên bố bỏ Hội Tam Điểm và xin rút lại những bài viết chống Giáo Hội, chống tôn giáo. Tiếp đó, ông lĩnh nhận các bí tích với lòng đạo đức sốt sắng đến nõi kích động mạnh tâm hồn những người chứng kiến cuộc trở lại của ông. Sau khi âu yếm hôn thánh giá và nhìn nhận Chúa như nguồn hi vọng độc nhất của mình, ông tắt thở.

 Mọi người đều khẳng định sở dĩ giáo sư Parrini trở lại được như vậy là nhờ ngày nào ông cũng đọc kinh "Từ Vực Sâu" cầu cho các linh hồn trong luyện ngục.

 Nếu ta cứu các linh hồn 

 Bằng lời kinh nguyện sớm hôm chuyên cần

 Các ngài tích cực đỡ đần

 Khi ta đau khổ muôn phần xót xa.

 

33. TẦM QUAN TRỌNG CỦA NGƯỜI MẸ

 Giáo sư Kôbayosi, người Nhật đã gắn các điện tử ghi hình những động tác của mi mắt, mạch tim, lồng ngực, ngón tay, chân trẻ sơ sinh. Ông thấy trẻ hỏng hốt trước tiếng động mạnh, bồn chồn khi nghe người lạ nói. Nhưng khi mẹ ẵm con vào lòng và nựng con, thì những động thái của con trở nên nhịp nhàng, êm ái, chứng tỏ có sự yên tâm, thoải mái và tin tưởng. Giáo sư kết luận : trong Người ngày thơ ấu, trẻ con cần sống bên mẹ. Cần xóa bảo khoảng cách giữa mẹ và con, khoảng cách mà khoa nhiều của phương Tây tư bản gần đây có ý dựng nên.

 Ở các bệnh viện hiện đại, người ta không nuôi con tách mẹ nữa vì nó phản tự nhiên. Khi còn là bao thai, con được mẹ làm giúp mọi việc, từ dinh dưỡng, bài tiết đến hô hấp. Khi bé cất tiếng chào đời, một cuộc sống độc lập bắt đầu trong cái môi trường xa lại. Do đó, mẹ cần gần gủi,cần tiếp tục bảo vệ con, giúp con thích nghi với môi trường sống luôn biến động. Lồng ấp, các thiết bị hiện đại, cô y tá chỉ phụ giúp chứ không nuôi con thay mẹ được Tình thương, bầu sữc, tiếng nói của mẹ là nguòn sống của trẻ thơ, không loại thuốc bổ nào sánh bằng. 

 Mẹ là suói đẹp của con

 Ngắm khuôn mặt mẹ dịu hơn trăng rằm

 Mẹ là ánh sáng mùa xuân

 Thiếu tình của mẹ, tối tăm lạnh lùng.

 

34. NGƯỜI MẸ DŨNG CẢM

 Trong cuộc bách hại tôn giáo ở Trung Hoa vào năm 1900, một kitô hữu đã bị đưa ra trước tòa án xét xử vì đức tin của anh. Trước khi rời gia đình, anh quì gối xuống trước mặt người mẹ đã rất nhiều tuổi để xin mẹ chúc lành cho.

 Bà mẹ nói : "Nếu con phải chết vì đức tin thì đã có Thiên Chúa xếp liệu mọi việc cho chúng ta. Con hãy bình tâm đừng bồn chồn lo lắng gì đến mẹ hoặc đến con cái của con. Nếu con hèn nhát chói đạo thì con đừng nhìn lại mặt mẹ nữa bởi vì mẹ sẽ không thừa nhận con là con trai của mẹ !".

 - Thưa mẹ, xin mẹ đừng lo, với ơn Chúa, con quyết sẽ giữ vững đức tin cao quí. Thế rồi anh ra đi, can dảdm chấp nhận cái chết với sự chúc lành của người mẹ.

 Bà mẹ Trung Hoa này cũng anh hùng chẳng kém bà mẹ anh em Macabê xưa. Và trong Giáo Hội ta, còn biết bao nhiêu bà mẹ dũgn cảm như thế khi họ không tiếc dâng cho Chúa đứa con duy nhất của mình để làm vinh danh Người trong các tu viện hoặc trên các nẻo đường truyền giáo heo hút xa xôi.

 Biết bao bà mẹ anh hùng

 Dâng con chẳng có ngại ngùng chút chi

 Miễn sao danh Chúa uy nghi

 Sáng ngời khắp chốn, mẹ hi sinh liền.

 

35. CẶP MẮT CỦA NGƯỜI MẸ

 Năm 1902, trong một làng nhỏ của vùng Florence, một bé trai 10 tuổi tên là Guido Cerretti bỗng bỏ nhà trốn đi. Cha mẹ và thân nhân rảo đi kiếm tìm nhưng vô hiệu ... Hai mươi năm sau bà mẹ và một người con gái bước vào rạp xem một đoàn xiếc trình diễn tại thành phố Venise. Trong buổi trình diễn có một tay xiếc nhào lộn rất tài tình và độc đáo. Đôi mắt bà mẹ đăm đăm thu nhận hêt mọi động tác của anh và bà tin rằng người nghệ sĩ đó chính là Guido, con trai của bà đã bị mất tích trước kia. Sau buổi trình diễn, bà đến xin gặp người diễn viên ấy và đã nhận ra chính anh là Guido, con bà, 20 năm trước đã bỏ nhà trốn vì sợ bị phạt. Lúc đầu anh xin gia nhập một đào xiếc lưu động. Sau 20 năm bôn ba ở nhiều nước, anh đã trở về làm công tác nghệ thuật ở Ý và không ngờ tại đây, anh dã bị nhận diện bởi cặp mắt tinh tường của người mẹ thân yêu.

 Tình tường mắt mẹ nhìn con

 Nhận ra những nét tâm hồn thẳm sâu

 Dù con phiêu bạt nơi đâu

 Mẹ hằng nhớ rõ từ đầu tới chân.

 

36. HIỆP THÔNG

 Trước khi trở thành họa sĩ thời danh, năm 1811, Peter Cornelius đi với một nghệ sĩ điều khắc tới tham quan Rôma. Trong thời gian du lịch này, xảy đến với họ câu chuyện sau đây ở vùng Tyrol.

 Một hôm đi lỡ đường, hai nghệ sĩ này dừng chân ở một nông trại. Tối đến, họ thấy người chủ gia đình tập họp mọi thành viên trong gia đình lại đọc kinh rốt sắng. Hai du khác ngôi yên và làm như học không nhận thấy gì ... Một hồi sau, mọi người được giải tán về phòng riêng. Lúc bước lên gác, Cornelius nghe ông chủ nhà kết thúc Kinh Lạy Cha với lời nguyện : "Xin Chúa đoái thương linh hồn của hai người bạn trẻ này và hoán cải họ bởi vỉ xem ra như họ không nhận biết Chúa". Những lời ấy vang lên trong phòng riêng của ông chủ nhà nhưng chúng đã bay tới tai Cornelius rõ mồn một.

 Cornelius cảm động và tự vấn : tôi là gì đối với người nông dân này ? Tại sao ông lại quan tâm và thương đến linh hồn tôi như thế ?

 Thật lòng mến Chúa chí tôn

 Sẽ thương yêu hết linh hồn người ta

 Dù quê hương họ cách xa

 Thì mình cũng thấy mặn mà chí thân.

 

37. CÁC CHI TIẾT 

 Nhà điều khắc thời danh Michel Ange đang chạm một pho tượng. Một người bạn đứng nhìn ông làm việc. Một thời gian sau, người bạn này trở lại và phát biểu là ông ta cảm thấy từ lâu ông đến thăm tới nay, hình như nghệ sĩ không hề mó tay vào tác phẩm. Nhưng Michel Ange nói với ông :

 - Bạn lầm rồi ! Tôi luôn tay sửa lại pho tượng ! Chỗ này tôi bớt đi một chút. Chỗ kia tôi chỉnh lại một nét. Tôi đánh bóng phần này. Toi tăng sức biểu cảm cho đôi môi. Toi đục sâu cho khối bắp này nhô hơn ...

 Người bạn trả lời : "Nhưng đó chỉ là những chi tiết !". Nghệ sĩ đáp lại :

 Vâng, đó là những chi tiết, nhưng xin bạn đừng quên rằng các chi tiết đem lại cho tổng thể sự hoàn mĩ và sự hoàng mĩ không phải là việc nhỏ.

 Dù rằng chi tiết nhỏ nhoi

 Bỏ qua chi tiết không đời nào nên

 Muốn cho tổng thể đẹp lên

 Phải trau chi tiết, đừng quên dồi mài.

 

38. BIẾT SỐNG 

 Hồ Khưu Thượng Nhân nó với Tôn Thúc Ngao : "Có 3 điều chuốc oán, ông biết không ?". Tôn Thúc Ngao trả lời : "Tôi chưa được biết".

 Hồ Khưu Thượng Nhân nói : đó là 

 - Tước vị cao người ta ghen

 - Quyền thế lớn người ta ghét

 - Lợi lộc nhiều người ta oán.

 Tôn Thúc Ngao đáp : "Tước vị càng cao tôi càng xử nhún nhường hơn. Quyền thế càng cao, tôi càng ở khiêm cung hơn. Lợi ích nhiều, tôi càng chia sớt cho người chung quanh. Như thế thì làm gì bị thiên hạ thù oán".

 Khi bệnh nặng sắp chết, Tôn Thúc ngao gọi con lại và dặn : "Nhà vua muốn ban đất cho ta, ta đã chối từ. Sau khi ta chết, thế nào nhà vua cũng ban cho con. Cha không muốn con lĩnh những đất tốt. Nếu phải nhận thì con hãy xin miếng đất không tốt mấy và tên cũng chẳng chẳng đẹp nằm ở giữa Nước Sở và Việt. Con có được miếng đất ấy thì cũng chẳng sợ ai dòm ngó".

 Tôn Thúc Ngao chết. Vua ban đất cho con ông. Y xin được miếng đất như lời cha đã dặn. Nhờ vậy con cháu giữ vững được nó.

 Nếu ta luôn biết sống khôn

 Thoát bao nguy hiểm trên con đường đời

 Thu nhiều thắng lợi khắp nơi

 Ngày đêm yên dạ, muôn người mến yêu.

 

39. GIẤY PHÚT QUYẾT ĐỊNH

 Một tu sĩ làm giáo sư trong một trường nọ có thói quen nhắc nhở cho các sinh viên câu châm ngôn này : "Giây phút định đoạt vĩnh cửu".

 Một người học trò của ngài đã lầm lạc đi vào xấu xa. Cuối cùng anh ngã lòng và định tâm tự tử. Nhưng khi sắp tự sát, thì bỗng nhiên trong đầu óc anh hiện ra câu châm ngôn của vị thầy cũ. Vì quá sợ hãi, anh ta ném khẩu súng lục xuống đất. Và chính ngay lúc ấy có tiếng gõ cửa. Vị giáo sự bước vào. Người thanh niên liền chạy lại ôm lấy cổ thầy vừa khóc vừa kể lại những án cho anh một tận cùng bi thảm như thế.

 Một giây quyết định muôn đời

 Nhúng chàm tay đã ăn rồi không phai

 Muôn năm hệ lụy lâu dài

 Mình làm mình chịu trách ai được giờ ?

 

40. CHỌN LỰA

 Một số người may mắn được sống sót trong cuộc đắm tàu Tinatic của Anh lúc 10 giờ đêm, ngày 14-04-1912 có thuật lại câu chuyện sau đây :

 Sau khi được đưa lên boong tàu để chuẩn bị được cứu thoát, một người đàn bà xin phép trở lại phòng ngủ của mình lần cuối cùng để lấy một số đồ vật quí giá. Người ta cho bà đúng ba phút để làm việc ấy. Người đàn bà vội vã chạy đi. Dọc theo hành lang bà thấy không biét bao nhiêu là nữ trang và các đồ quí giá người ta đã bỏ lại. Đến phòng ngủ ba ta đưa mắt khắp gian phòng, nhìn các thứ nữ trang và báu vật thân yêu của bà. Nhưng cuối cùng bà chỉ nhặt lấy 3 quả cam rồi nhanh chóng trở lên boong tàu.

 Trước đó vài giờ, có lẽ người đàn bà ấy không bao giờ chú ý đến 3 quả cam kia. Nhưng trong giây phút nguy ngập nhất của cuộc sống thì giá trị của các sự vật bị dảo lộn. Lúc ấy 3 quả cam kia đã trở nên quí giá hơn cả tấn vàng và kim cương.

 Nhiều khi hoàn cảnh đổi ngay

 Cán cân giá trị cũng thay đổi liền

 Ngọc ngà châu báu kim tiền

 Cũng thua miếng ánh ăn liền đỡ thân.

 

41. YÊU THƯƠNG KẺ THÙ

 Một thời gian vắn sau khi bá tước Poctocky bị một sinh viên ám sát, người ta thấy bà vợ góa của ông cầm bút ngồi trầm ngâm trước một tờ giấy đặt trên bàn rồi bắt đầu viết.

 Mà viết gì thế ? - Đứa con trai nhỏ của bà hỏi với đôi mắt ngây thơ vô tội.

 Mẹ viết một bức thư con ạ.

 Trả lời xong, bà lịa tiếp tục cầm bút viết, nhưng bàn tay của bà từ chối cử động. Thế ròi bà đưa tay làm dấy thánh giá và đọc thêm một lời nguyện. Sau đó, bà mạnh dạn cầm bút ký tên dước bức thư xin ân xá cho kẻ đã giết chồng bà bị kết án thủ phạm tử hình và đang bị giam giữ ở nhà tù Lemberg.

 Trước khi làm việc anh hùng này, bà đã cầu nguyện rất lâu giờ trong nhà thờ và bà đã múc được nguồn nước yêu thương tha thứ cho kẻ thù nơi Thánh Tâm Chúa.

 Trái Tim Chúa mạch tình thương

 Giúp ta thay thứ cho phường ác nhân

 Khoan dụng với họ muôn phần

Lấy ơn trả oán, không cần thù ai.

 

42. SƯ TỬ VÀ HOA HỒNG

Sư tử ốm, đã một tuần nay phải nằm trong hang. Nó buốn lắm vì chẳng có con vật nào đến thăm hỏi và mang cho nó chút quà. Nhìn ra cây hoa hồng ngòai cửa hang lúc nào cũng có bướm, ong, có chim kêu ríu rít và bay lượn vui vẻ, sư tử hỏi :

- Hoa hồng ơi ! Vì sao ngươi mảnh dẽ yếu ớt như thế mà lúc nào cũng lắm bạn bè, còn ta thì không một ai tới thăm.

- Vì mõi khi gặp gỡ tôi mến tặng cho mọi người hương thơm và màu sắc tươi đẹp. Còn ngài, ngài đã tặng gì cho những con vật nhỏ bé yếu đuối hơn ngài mỗi khi ngài gặp chúng.

 Muốn cho quần chúng yêu mình

 Phải lo giúp đỡ, nhiệt tình làm ơn

 Biết bao kẻ bị oán hờn

 Chỉ vì làm fhại xác hồn người ta. 

 

43. CHIẾC ĐINH CONG

 Có một người đàn ông tên là Bill. Ông ta là một nhà thầu khoán nổi tiếng. Dần dà, do công việc dồn ép nên Bill đã đâm đầu vào say mê ruợu chè và chẳng bao lâu sau ông đã tách lìa mái ấm gia đình. Càng ngày ông càng đi sâu vào tội llỗi và làm đổ vỡ cả sự nghiệp của ông. Một hôm đang lúc đi bách bộ xuống phố, tình cờ Bill cúi mặt nhìn xuống và thấy bên vệ đường một chiếc đinh cong queo dĩ dét. Bill tự nghĩa : chiếc đinh ấy đúng là hình ảnh của mình. Mình chỉ còn là đồ vô dụng đáng quăng đi như nól nghĩ thế Bill cúi xuống nhặt chiếc đinh bỏ vào túi. Về nhà, Bill lấy búa đập nó thẳng ra và dùng giấy nhám đánh bóng cho mất lớp dĩ. Sua đó Bill đặt chiếc đinh này bên cạnh chiếc đinh mới và khó nhận ra sự khác biệt giữa hai chiêc đinh ấy. Thế là một tư tưởng lóe lên trong trí Bill : cuộc đời ông có thể được uốn thẳng và đánh bóng trở lại giống như chiếc đinh nọ. Tuy nhiên,  không phải là dễ dàng ... Và ông đã làm thử.

HIện nay, ông đã đoàn tụ với gia đình và là người chồng sốt sắng, người cha gương mẫu.

 Dù cho đinh dĩ cong queo

 Cuối cùng cũng uốn được theo ý mình

 Quyết tâm dứt bỏ dục tình

 Lánh xa tội lỗi, phúc vinh muôn đời.

 

44. KIÊN NHẪN

 Đời nhà Đường, có một đại thi hòa tên là Lý Bạch. Thời niên thiếu, Lý Bạch học hành dở dang. Ông thường bỏ học đi lang thang du ngoạn đây đó. Một hôm đi ngang một nhà ở bên đường, Lý Bạch thấy một bà cụ già đang mài một cái chày sắt trên tảng đá. Thấy việc lạ lùng. Lý Bạch dừng chân hỏi : "Chẳng hay bà cụ mài cài chày sắt làm gì vậy ?". Bà cụ thản nhiên đáp : "Tôi muốn mài cái chày này thành một cái kim đê vá quần áo". Lý Bạch chợt tỉnh ngộ, lập tức quay về ra sức học hành và sau cùng đã trở thành đại thi hào của đất nước Trung Hoa.

 Sắt kia mài mãi thành kim

 Ra sức học mãi sẽ sinh nhân tài

 Một lòng kiên chí giẻo dai

 Sẽ đưa ta đến ngày mai rạng ngời.

 

45. CHÀNG OÓC-PHÊ

 Theo thần thoại Hi Lạp, Orphée là một chàng trai có tiếng sáo tuyệt vời, trên đwòi này không có nghệ sĩ nào sánh bằng. Chàng yêu và cưới một cô gái đẹp tên àl Eurydice. Trong một buổi dạo chơi ở cánh đồng nọ, Eurydice bị một con rắn đocọ cắn chết ngay tại chỗ. Orphée không thể nào chịu đựng nổi sự mất mát lớn lao ấy. Chàng quyết định dùng sức mê hoặc của tiếng sáo vào tận âm phủ để đòi lại cho bằng được nàng Eurydice quí yêu.

 Với giọng sáo mê ly chàng đã thu phục được người canh cổng âm phủ là con chó Cerbère dung dữ, đã làm cho bánh xe Ixion ngừng quay, thần Sisyphe ngồi bất động trên phiến đá, thần Tantale quên khát, các nữ thần hugn ác trở nên dịu dàng. Do ảnh hưởng của tiếng sáo, không ai có thể từ chồi vất cứ điều gì chàng xin. Chủ tể âm phủ bằng lòng giao trả nàng đẹp Eurydice cho Orphée. Ông chỉ ra một điều kiện là chàng không được quay lại nhìn nàng trước khi bước qua ngưỡng cửa của thế giới người sống.

 Thế rồi, chàng trước, nàng sau đi dần ra khỏi âm phủ. Chỉ còn một bước nữa là chàng sẽ bước vào miền ánh sáng. Bỗng chàng quay lại nhìn nàng. Chàng đưa tay định nắm lấy tay nàng, nhưng ngay lúc đó, vì Eurydice chưa bước ra khỏi ranh giới, nên nàng đã tan biến đi như khói. 

 Chàng đuổi theo, nhưng lúc đó các vị thần ngăn cản không cho kẻ sống được vào trong vương quốc người chết một lần khác nữa. Từ đó Orphée buồn rầu đi lang thang, khóc lóc nỗi bất hạnh của mình.

 Vì chàng quay mặt nhìn xem

 Nên người vợ đẹp hóa nên khói mờ

 Quên lời căn dặn nhỏ to

 Suốt đời ân hận, buồn cho kiếp người.

 

46. ANH ĐÃ CHẾT CHO TÔI

 Ít lâu sau cuộc chiến Nam-Bắc phân tranh ở Mỹ, có một du khác đến thăm nghĩa trang quân đội ở Nashville. Tại đây, ông gặp một người đang trồng hoa trên một ngôi mộ. 

 Du khác liền hỏi : "Con ông an nghỉ tại đây à !".

 - Không.

 - Hay đây là thân nhân của ông ?

 - Không.

 - Vậy tại sao ông lại trồng hoa trên ngôi mộ này ? Người ấy trả lời : "Khi chiến tranh bùng nổ, tôi đang ở Illinois và bị gọi nhập nhũ. Vì nghèo, không có đủ tiền để thuê một người thay thế, buộc llòng tôi phải tuân lệnh. Khi tôi đã chuẩn bị đồ đạc xong xuôi và sắp twù biệt vợ con, thì một nga bạn rất tốt đến nói với tôi : "Gia đình anh đông con, nếu anh phải ra đì thì vợi anh chắc sẽ không có đủ khẳ năng mưu sống, do đó, toi sẽ tahy thế chỗ của anh". Tôi chấp nhận lwòi đề xuất cảu anh bạn tốt vụng này một cách vui sướng và tràn đầy lòng biết ơn ... Trong trận gia chiến ở Chikamenga, người bạn này bị trọng thương và sau đó, anh đã từ trần tại Nashville. Khi được tin này, lòng tôi đau xót, tâm trí tôi bàn hoàng bất ổn, khi chưa đến viếng và trang hoàng ngôi mộ này của bạn tôi. Nói xong, anhcắm thêm lên đầu một một tấm biển nhỏ amgn dòng chữ đơn giản nhưng thâm thúy ý nghĩa này : "Anh đã chết cho tôi".

 Chúa thương chịu chết vì ta

 Nhớ Người bạn có xót xa trong lòng ?

 Ngày đêm bạn có ghi công

 Nhờ Người bạn thoát khỏi vòng trầm luân.

  

47.  Lỗi & PHải.

 

Không phải lỗi tại tôi. Đây là chuyện có thật, xảy ra tại tiểu bang New Jersey, Hoa Kỳ. Tại một nhà thương nọ, các bác sĩ đã giải phẫu một người đàn ông bị bệnh mập phì, gắn vào một cái vòng thắt bao tử để giúp ông bớt ăn nhiều. Sau cuộc giải phẫu vài ngày và bắt đầu lại sức, ông đứng dậy đi lang thang trong hành lang của nhà thương để tìm nhà bếp. Khi thấy được nhà bếp thì ông đi thẳng tới cái tủ lạnh to tướng, mở ra và ăn ngấu nghiến tất cả đồ ăn để trong đó.  Vì ăn quá mức nên cái vòng thắt bao tử của ông téc ra, làm chảy máu nội thương. Thế là bác sĩ phải mổ lại lần thứ nhì cứu ông thoát chết. Nhưng ai ngờ sau đó ông quay ngược lại kiện nhà thương và bác sĩ. Ông nói:"Tôi bị mổ lần thứ nhì không phải lỗi tại tôi mà là lỗi của nhà thương và bác sĩ đã không biết khóa cái tủ lạnh lại".

 

Khi nghe câu chuyện trên chắc bạn sẽ tức cười vì quá vô lý. Người đàn ông mập phì kia đã không biết lỗi mình tham ăn thì chớ, nay lại quay sang đổ lỗi cho người khác. Nhưng nếu nhìn kỹ một chút thì đa số chúng ta cũng thường mắc phải lỗi tương tự. 

 

Raphael  Trần Xuân Nhàn. (Sưu tầm)

 

 






Comment: