Tông Huấn Amoris Laetitia, Niềm Vui Yêu Thương
Thứ Ba, Ngày 12 tháng 4-2016

Tông Huấn Amoris Laetitia,  Niềm Vui Yêu Thương
của Đức Giáo Hoàng Phanxicô về Tình Yêu Thương trong Gia Đình

Hôm Thứ Sáu 8/4/2016 Tòa Thánh Vatican đã phổ biến Tông Huấn được nao nức trông chờ của Đức Giáo Hoàng Phanxicô về gia đình, một văn kiện được góp phần tham vấn gần 3 năm trời từ tín hữu Công giáo ở các xứ sở trên khắp thế giới.

Văn kiện dài này, mang tựa đề 'Amoris Leatitia', hay Niềm Vui Yêu Thương, khẳng định giáo huấn của Giáo Hội rằng các gia đình vững chắc là những khuôn đá xây dựng một xã hội lành mạnh và là một nơi để con cái học biết yêu thương, tôn trọng và giáo tiếp với người khác.

Văn kiện này đồng thời cũng cảnh giác việc lý tưởng hóa nhiều thách đố mà đời sống gia đình đang phải đối đầu, thôi thúc các tín hữu Công giáo hãy chăm sóc hơn là lên án tất cả những ai đang sống một cuộc đời không phản ảnh giáo huấn của Giáo Hội.

Văn kiện đây đặc biệt nhấn mạnh đến nhu cầu cần phải làm sao "nhận thức cá biệt và mục vụ" đối với những cá nhân, nhìn nhận rằng "cả Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới lẫn Tông Huấn này cũng không thể nào có thể cung cấp được một bộ qui tắc chung chung mới mẻ, tự nó có tính cách ràng buộc theo giáo luật và có thể áp dụng cho tất cả mọi trường hợp".

Tất cả trọn vẹn bản văn kiện Tông Huấn 'Amoris Laetitia' hay Niềm Vui Yêu Thương ở cái link của Tòa Thánh như sau: http://w2.vatican.va/content/francesco/en/apost_exhortations/documents/papa-francesco_esortazione-ap_20160319_amoris-laetitia.html

Sau đây là bản tổng tóm chính thức về văn kiện của Tông Huấn 'Amoris Laetitia' hay Niềm Vui Yêu Thương: Về Tình Yêu Thương trong Gia Đình.

Không phải là tình cờ mà Tông Huấn Amoris Laetitia (AL), "Niềm Vui Yêu Thương", Tông Huấn hậu thượng nghị giám mục thế giới "về Tình Yêu Thương trong Gia Đình", được ký vào ngày 19/3, Lễ Trọng kính Thánh Giuse. Văn kiện này tổng hợp thành quả hai Thượng Nghị về gia đình được Đức Giáo Hoàng Phanxicô triệu tập vào năm 2014 và 2015. Bản văn thường trích lại Những Tường Trình Tổng Kết; các văn kiện và giáo huấn từ những vị tiền nhiệm của ngài; và nhiều bài giáo lý của ngài về gia đình. Chưa hết, như trong các văn kiện huấn quyền trước, vị Giáo Hoàng này cũng sử dụng các đóng góp của những Hội Đồng Giám Mục khác nhau trên khắp thế giới (Kenya, Australia, Argentina ...), và trích dẫn những nhân vật quan trọng như Martin Luther King và Erich Fromm. Vị Giáo Hoàng này thậm chí còn trích dẫn cả phim Babette's Feast để diễn giải quan niệm về công thưởng.
Dẫn nhập (1-7)

Tông Huấn này đặc biệt là vừa dài vừa chi tiết. Bản văn có 325 đoạn được phân chia thành 9 chương. Bảy đoạn dẫn nhập đã mở màn về tính chất phức tạp của một đề tài rất cần phải được nghiên cứu một cách thấu đáo. Những đóng góp của các Nghị Phụ Thượng Nghị làm nên "một viên ngọc muôn mặt" (AL 4), một khối đa diện quí báu, có một giá trị cần phải bảo trì. Thế nhưng, vị Giáo Hoàng này cảnh báo rằng: "không phải tất cả mọi thứ bàn luận về các vấn đề tín lý, luân lý hay mục vụ cần phải được giải quyết ổn thỏa bằng những can thiệp của huấn quyền". Thật vậy, đối với một số vấn đề, "mỗi xứ sở hay mỗi miền ... có thể tìm kiếm những giải quyết tốt đẹp hơn thích hợp với nền văn hóa và cảm quan của mình đối với các truyền thống và những nhu cầu địa phương của mình. Vì 'các nền văn hóa thực sự là rất khác nhau mà hết mọi nguyên tắc chung ... cần phải được hội nhập văn hóa nếu nó muốn được tôn trọng và áp dụng'" (AL 3). Nguyên tắc hội nhập văn hóa này áp dụng vào việc hình thành và giải quyết các vấn đề trục trặc, và trừ các vấn đề về tín lý đã được huấn quyền của Giáo Hội xác định rõ ràng, thì không có một phương sách nào có thể được "toàn cầu hóa". Trong bài nói của mình để kết thúc Thượng Nghị 2015, vị Giáo Hoàng này đã nói rất rõ rằng rằng: "Những gì có vẻ là bình thường đối với một vị giám mục ở châu lục này (chẳng hạn, theo người dịch ở đây, vấn đề hôn nhân đồng tính) thì lại bị coi là lạ lùng và hầu như tệ hại - hầu như! - đối với một vị giám mục ở châu lục khác; những gì được coi là vi phạm đến quyền lợi ở xã hội này (chẳng hạn, theo người dịch ở đây, quyền ly dị phá thai) thì lại là một qui tắc hiển nhiên bất khả vi phạm nơi một xã hội khác; những gì là tự do theo lương tâm đối với một số người thì chỉ là tình trạng lầm lẫn đối với những người khác".

Vị Giáo Hoàng này đã minh nhiên nói rằng chúng ta trước hết cần phải tránh một thứ sát cận có vẻ khô cằn giữa những đòi hỏi cần phải đổi thay với việc áp dụng tổng quát những tiêu chuẩn trừu tượng. Ngài viết: "Những cuộc tranh cãi diễn ra nơi giới truyền thông, nơi một số những ấn bản, và thậm chí giữa các thừa tác viên của Giáo Hội, cho thấy tầm mức cách biệt từ một ước vọng vô độ muốn hoàn toàn thay đổi mà không suy nghĩ đầy đủ hay thiếu nền tảng, đến một thái độ muốn giải quyết hết mọi sự bằng cách áp dụng các qui tắc chung hay bằng việc rút ra những kết luận bất tương xứng từ những nhận định thần học đặc biệt" (AL 2).

Chương Một: "Theo ánh sáng của Lời Chúa" (8-30)

Tiếp phần dẫn nhập này, Đức Giáo Hoàng bắt đầu những chia sẻ của ngài theo Thánh Kinh ở chương thứ nhất, một chương mở ra như là một bài suy niệm về Thánh Vịnh 128 (được phụng vụ hôn nhân của người Do Thái cũng như của các cuộc thành hôn Kitô giáo sử dụng). Thánh Kinh "đầy những gia đình, những cuộc sinh nở, những câu truyện tình và các cuộc khủng hoảng gia đình" (AL 8). Điều ấy thúc đẩy chúng ta suy niệm về chuyện làm thế nào gia đình không phải là một thứ lý tưởng trừu tượng mà như là một thứ "giao dịch" cụ thể (AL 16), một giao dịch được thực hiện một cách dịu dàng (AL 28), nhưng là một giao dịch cũng đã bị đụng độ với tội lỗi ngay từ ban đầu, khi mối liên hệ yêu thương bị biến thành sự thống trị (xem AL 19). Bởi thế mà Lời Chúa "không phải là một chuỗi những tư tưởng trừu tượng hơn là một nguồn mạch an ủi và hỗ trợ cho hết mọi gia đình đang trải qua những khó khăn hay đau khổ. Vì Lời Chúa tỏ cho họ thấy đích điểm hành trình của họ.. ." (AL 22). 

(còn tiếp)

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo bản Tiếng Anh của chính nguồn của Tòa Thánh Vatican






Comment: